Trong bối cảnh quản trị toàn cầu đang đối mặt với muôn vàn thách thức và cục diện quốc tế đầy rẫy những biến động bất định, việc các nước đang phát triển làm sâu sắc hơn mối quan hệ quốc tế kiểu mới để đạt được sự phát triển chung đã trở thành cốt lõi của thời đại. Cũng chính trong bối cảnh đó, hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã xác định mục tiêu vĩ đại là “Xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược”. Làm sao để thúc đẩy hợp tác quản trị toàn cầu nói chung, quản trị khu vực nói riêng một cách hiệu quả - đó chính là đề tài khiến đông đảo học giả trên thế giới dành nhiều tâm huyết nghiên cứu.
Tại Diễn đàn Tư vấn Chính sách cấp cao về Quản trị Quốc gia của các nước đang phát triển lần thứ 6 (diễn ra ngày 26/6 vừa qua tại Bắc Kinh), học giả Việt Nam Phạm Ngọc Tuyết - hiện là Nghiên cứu viên sau Tiến sĩ tại Trung tâm Hán học Thế giới (Trường Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh) - đã có cơ hội trình bày quan điểm của mình về chủ đề này thông qua bài phát biểu: “Gắn kết lòng dân dưới lăng kính liên văn hoá – Vai trò cầu nối của các học giả trẻ trong hợp tác quản trị toàn cầu Việt – Trung”.
Trao đổi với Đài Phát thanh Truyền hình Trung ương Trung Quốc, bà Phạm Ngọc Tuyết thẳng thắn bày tỏ, tính hiệu quả của quản trị toàn cầu không chỉ phụ thuộc vào các cuộc đối thoại chính trị cấp cao và sự vận hành mang tính cơ chế, mà ở tầng sâu hơn, nó được quyết định bởi “sự thấu hiểu giữa lòng dân” và sự bồi đắp văn hóa giữa nhân dân các nước. Vị học giả Việt Nam nhấn mạnh, quản trị toàn cầu không chỉ cần những khung cơ chế cứng rắn, mà rất cần một sự thấu hiểu văn hóa mang đầy hơi ấm - và các học giả trẻ chính là những vị dịch giả văn hóa, là chiếc cầu nối tư duy kết nối hai dòng thấu hiểu ấy.

Học giả Việt Nam Phạm Ngọc Tuyết - Nghiên cứu viên sau Tiến sĩ tại Trung tâm Hán học Thế giới (Trường Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh)
“Trong quá trình thúc đẩy hợp tác và quản trị khu vực, chúng ta thường dễ rơi vào một lối mòn trong tư duy, đó là cho rằng hai nước Việt - Trung núi liền núi, sông liền sông, văn hóa tương đồng, nên việc thấu hiểu và hợp tác hiển nhiên sẽ diễn ra một cách thuận lợi, suôn sẻ. Tuy nhiên, với tư cách là một người quan sát trực tiếp sống và làm việc tại Bắc Kinh trong thời gian dài, đồng thời là người nghiên cứu liên văn hóa ở tuyến đầu, tôi nhận thấy rằng: chính sự ‘tương đồng’ trên bề mặt ấy đôi khi lại che lấp đi những ‘khác biệt’ ở tầng sâu, dẫn đến những sai lệch thông tin và rào cản nhận thức trong quá trình giao lưu thực tế của người dân,” bà Phạm Ngọc Tuyết cho hay.
Trong các nghiên cứu liên văn hóa truyền thống, khi đối mặt với sự khác biệt văn hóa Đông - Tây, các học giả thường nỗ lực “tìm kiếm điểm tương đồng trong sự khác biệt” nhằm thúc đẩy sự bao dung văn hóa. Tuy nhiên, đối với các quốc gia thuộc vùng văn hóa có mối quan hệ gần gũi và tương đồng cao như Việt Nam và Trung Quốc, việc “nhận ra sự khác biệt trong những điểm tương đồng” lại mang một giá trị định hướng thực tiễn đặc biệt. Chính vì sự tương đồng lớn trên bề mặt dễ khiến chúng ta rơi vào một lối mòn tư duy mang tính mặc định, theo thói quen dùng logic quản trị và hành vi của nước mình để suy luận cho ý đồ thực tế của nước bạn. Sự soi chiếu nhận thức một cách trọn vẹn này đôi khi vô tình dẫn đến sự lệch pha về mặt thấu hiểu trong giao lưu thực tế của đôi bên. Vì vậy, việc thẳng thắn nhìn nhận những khác biệt căn bản nhưng tinh tế về mặt loại hình văn hóa dưới một biểu hiện tương đồng không chỉ là sự nghiêm túc của học thuật, mà chính là cách hiện thực hóa một cách chân thực tư tưởng “hòa nhập nhưng không hòa tan” và “học hỏi giữa các nền văn minh”, từ đó đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định và lâu dài của hợp tác song phương.
Vị học giả phân tích, nhìn từ góc độ loại hình học văn hóa, văn hóa Trung Quốc thuộc về “loại hình văn hóa trung gian trọng thế tục”. Sự phức tạp và đặc sắc của loại hình này nằm ở cấu trúc đặc trưng đa chiều của nó. Ở phương diện coi trọng đạo đức luân lý, quan hệ tông tộc, nó có sự tương đồng và chồng lấn tự nhiên với văn hóa Việt Nam. Thế nhưng, ở các phương diện như tính quy phạm, tính hệ thống, năng lực tổ chức, cũng như vai trò chủ đạo của nam giới trong quản trị xã hội, ở một mức độ nào đó, nó lại thể hiện sự chặt chẽ, tương thích với văn hóa thể chế phương Tây.
“Chính vì lẽ đó, nhiều giải pháp quản trị quốc gia và chính sách đối ngoại do Trung Quốc đưa ra, nếu chỉ đơn thuần đặt dưới lăng kính của một loại hình văn hóa đơn nhất khác để xem xét, thì rất dễ bị lý giải sai hoặc hiểu lầm. Thế giới bên ngoài thường vì không hiểu được đặc trưng mang tính hệ thống, tính ‘trung gian’ và ‘trọng thế tục’ này của văn hóa Trung Quốc, nên không thể nắm bắt chính xác logic cốt lõi phía sau các chính sách đó,” bà Phạm Ngọc Tuyết chỉ ra.
Rất may mắn là, do văn hóa hai nước Việt - Trung có sự giao thoa và chồng lấn sâu sắc trong lịch sử, Việt Nam có một lợi thế tự nhiên trong việc thấu hiểu tính liên tục của chính sách và logic quản trị của Trung Quốc. Tuy nhiên, để đưa hợp tác hai nước tiến xa hơn, chỉ dựa vào những điểm tương đồng thiên bẩm này là hoàn toàn chưa đủ, chúng ta buộc phải thẳng thắn nhìn nhận và thấu hiểu những khác biệt căn bản về mặt loại hình văn hóa, vị chuyên gia nêu ý kiến.
Khác với “loại hình văn hóa trung gian trọng thế tục” của Trung Quốc, văn hóa Việt Nam thuộc “loại hình văn hóa âm tính điển hình”, mà trong đối thoại liên văn hóa, chúng ta cũng có thể gọi đó là “loại hình văn hóa trọng tĩnh”. Trong mạch nguồn văn hóa Việt Nam, các đặc trưng như trọng tình nghĩa, nhấn mạnh tính trực giác, sự linh hoạt uốn nắn theo hoàn cảnh, sự biểu đạt cảm tính của văn học nghệ thuật, cũng như vai trò kết nối đặc biệt của người phụ nữ trong các mối quan hệ gia đình và xã hội, đều là những nét văn hóa cốt lõi và nổi bật nhất. Sự gặp gỡ giữa hai loại hình văn hóa khác nhau này vừa mở ra tiềm năng bổ trợ cho nhau, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn cho việc hợp tác quản trị.
Trong kỷ nguyên thông tin toàn cầu hóa, việc các phương tiện truyền thông mạng xã hội chia chẻ, cắt xén thông tin một cách mảnh vụn và tách rời bối cảnh lại càng làm trầm trọng thêm những hiểu lầm do khác biệt loại hình văn hóa gây ra, tạo nên những chi phí chiến lược không đáng có cho giao lưu nhân dân và lòng tin chiến lược giữa đôi bên.
“Trong bối cảnh đó, việc thấu hiểu sự khác biệt giữa các loại hình văn hóa và chuyển hóa chúng thành tài nguyên để học hỏi lẫn nhau trong quản trị quốc gia là một việc vô cùng cấp bách. Tính bao dung, sự linh hoạt và lòng trắc ẩn duyên dáng của văn hóa ‘âm tính’ Việt Nam có thể thổi thêm hơi ấm nhân văn vào các mô hình quản trị thiên về hệ thống và quy phạm của Trung Quốc; ngược lại, năng lực xây dựng hệ thống và sức mạnh thực thi chiến lược mạnh mẽ của văn hóa Trung Quốc cũng sẽ mang lại nền tảng thể chế vững chắc cho quản trị khu vực. Hợp tác giữa hai nước không phải là xóa nhòa đi sự khác biệt, mà là hiện thực hóa sự bổ trợ hoàn hảo về mặt công năng trên cơ sở thấu hiểu tường tận sự khác biệt của nhau, bà Phạm Ngọc Tuyết nhận định.
Học giả Việt Nam khẳng định, bản chất của quản trị toàn cầu suy cho cùng vẫn là quản trị vì con người, và giải pháp quản trị của các nước đang phát triển phải là một nền “quản trị đầy hơi ấm”. Bà cho rằng, trách nhiệm của những học giả trẻ không chỉ dừng lại ở việc viết nên những bài báo khoa học khô khan, mà là phát huy công năng của những nhà tư vấn chiến lược. Trong thời đại thông tin bùng nổ và phân mảnh này, các học giả trẻ cần dùng tư duy học thuật duy lý để làm rõ các ngộ nhận văn hóa, và dùng những câu chuyện nhân văn đầy cảm xúc để hàn gắn những vết rạn nứt trong nhận thức. Chỉ bằng cách bồi dưỡng thêm nhiều thế hệ trẻ có tầm nhìn toàn cầu, am hiểu sâu sắc nền tảng văn hóa của cả hai bên, chúng ta mới có thể tiếp thêm nguồn động lực tự thân không ngừng nghỉ cho tiến trình xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt – Trung và cả nhân loại.
“Dù cho gió lốc quốc tế tương lai có biến động thế nào, chỉ cần chúng ta kiên trì xuất phát từ tầng lõi của logic văn hóa, giữ vững nguyên tắc lấy sự chân thành để đối đãi, lấy sự thấu hiểu làm nền tảng, chúng ta chắc chắn sẽ vượt qua mọi rào cản, đóng góp cho một nền quản trị toàn cầu đang chuyển mình những giải pháp của tri thức trẻ — những giải pháp vẹn toàn giữa trí tuệ phương Đông và tinh thần nhân văn sâu sắc,” học giả Phạm Ngọc Tuyết tâm huyết nói.
Biên tập:CAINI LUO
Xét duyệt lần lần một:YANLAN ZHANG
Xét duyệt lần lần hai:CAIHONG TANG
Xét duyệt lần lần ba:ZHIHONG HOU